Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Ông Bài

05/02/2012 22 phút đọc BBT
(Kính tặng những người phụ nữ bất hạnh) Chiếc tàu điện cũ kĩ cua qua quãng đường vòng làm những hành khách ngồi trên
Ông Bài

(Kính tặng những người phụ nữ bất hạnh)

Chiếc tàu điện cũ kĩ cua qua quãng đường vòng làm những hành khách ngồi trên toa lắc lư, chao đảo. Ông Bài lẩm bẩm: Có lẽ cả Warszawa  chỉ còn chiếc tàu điện này sót lại từ thế kỉ trước, bao giờ họ mới chịu thay nốt đây.

Cửa sổ toa tàu được mở toang ra. Những làn gió mát đầu mùa hè ùa vào trong khoang. Mấy cô bé tuổi teen đang đứng nói cười rôm rả bỗng cùng nhau bịt mũi lại. Mấy bà ngồi ở hàng ghế bên cạnh cũng nhớn nhác, những con mắt đổ dồn đi tìm cái hương vị lạ lùng từ đâu bốc lên. Nhưng ông Bài không để ý đến điều đó. Cũng có thể là ông đã quen với cách cư sử của những người đứng gần ông. Họ đều có thái độ tránh xa ông, nếu không thể bịt mũi được mãi.

Phóng ánh mắt lơ đãng qua những con phố, ông Bài tự hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. Như hôm nay chẳng hạn, những đứa con của ông sẽ có một bữa tiệc thịnh soạn. Được công ty thưởng cho một món tiền, ông đã mua về cho vợ và các con cả một con vịt quay to tướng. Nem rán, tôm chiên, vịt quay… là những món ngon mà bọn trẻ nhà ông ưa thích. Thời buổi bây giờ, người có tiền thích khoe khoang, khi đãi nhau  thường bày đặt món này, món nọ cho đầy mâm, đầy đĩa. Nhưng rồi cả chủ lẫn khách có ai ăn được. Các loại vật nuôi được ăn thuốc tăng trọng, ăn vào nhiều chỉ tổ lo chữa bệnh Gút, nếu không thì cũng là lo lắng suốt ngày vì chỉ số Cholesterol lên cao. Đấy là chưa kể một số nhà hàng muốn cho thức ăn của mình thêm hấp dẫn còn cho nhiều mì chính, thậm chí cả những gói „gia vị” làm nước lẩu nhập từ Tàu mà không ai biết được làm từ những thứ gì. Với các con của ông Bài thì những chuyện ấy chẳng đáng ngại. Những cơ thể đang tuổi ăn, tuổi lớn của chúng sẵn sàng đón nhận tất cả những cái tốt và đào thải nhanh chóng những độc tố có trong thức ăn.

Mùa hè năm ấy, mới hơn mười năm mà tưởng chừng như đã lâu lắm rồi. Ông Bài lếch thếch xuống tầu với hai cái túi dứa to quá cỡ. Cái chợ trời ở vùng quê mới sớm mà đã đông người. Ông Bài phải lách qua mấy đám đông mới đến được bãi đất trống, gần lều của bà bán rau quả. Chỗ này ông được mấy chú bảo vệ chợ bảo kê cho đứng bán hàng, không ai có thể tranh được. Ông lần lượt bày lên hai chiếc giường đủ các loại quần áo, giầy dép, cả những thỏi son môi giá rẻ… Có đến hàng chục mặt hàng không biết made in nơi nào.

Chưa có năm nào mùa hè nắng như năm nay. Dự báo thời tiết nói là buổi trưa có thể lên đến 32 độ C, nhưng đứng trên cái sân gạch của chợ này dường như cái nóng còn được cộng hưởng thêm nhiều lần nữa. Hơi nóng bốc lên, mồ hôi của ông Bài đổ xuống. Tại sao ông lại nhiều mồ hôi thế nhỉ. Mấy ông Ba Lan cởi trần đứng bán khoai tây, da cứ đỏ au như tôm luộc mà chả có tí mồ hôi nào. Chưa bao giờ ông Bài thấy mệt như lúc này, người ông như  rời ra từng mảnh. Ông vốn là người được chiều chuộng xưa nay. Thủa nhỏ, là con út lại có hai chị nên ông chỉ lo việc học hành, không phải công việc gì nặng nhọc. Tốt nghiệp đại học, ông lấy vợ, làm việc ở viện nghiên cứu, „sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”. Cô vợ đảm đang, nên khi có con ông cũng chưa bao giờ phải thức đêm hay đi lâu ngoài trời nắng. Hai vợ chồng kế hoạch để con gái mười tuổi mới tiếp tục đứa thứ hai. Nhưng khi họ chưa có đứa thứ hai thì ông Bài được cử đi thực tập ở Ba Lan.

Bán hàng ở chợ trời - ảnh minh họa
Bán hàng ở chợ trời - ảnh minh họa

Nắng vẫn ập xuống cái sân chợ lát gạch. Mồ hôi ra nhiều làm cho ông Bài thấy khát nước liên tục. Bỗng ông cảm thấy hoa mắt, không đứng vững nữa. Lúc tỉnh dậy, ông Bài thấy mình nằm trên giường bệnh viện, bên cạnh là cô con gái bà hàng rau quả. Ông Bài định thần trở lại và tự hiểu được nguyên do. Nước mắt ông trào ra, mặc dù cô bé mừng quýnh lên và liên tục hôn vào má ông rất hồn nhiên.

Trận ốm kéo dài hơn một tháng. Những tích tụ của bao ngày chịu gió, rét, nắng, mưa như dồn cả về đây quật ngã ông Bài xuống giường bệnh. Rất may là ông đã được cô Eva (con bà hàng rau quả) chăm sóc chu đáo nên dần dần bình phục. Một sợi dây vô hình như quấn chặt lấy hai người. Ông Bài quyết định chuyển về „ở trọ” tại nhà mẹ con Eva để tiện đi chợ.

Cuộc sống „gần chợ, xa trường học” đã kéo tuột ông Bài ra khỏi cuộc sống của một thực tập sinh. Ông chia tay với thày và bạn bè trong trường đại học để bước vào cuộc sống mới như một nhà „kinh doanh” chân chính. Eva giúp ông mỗi khi đi về Vác lấy hàng. Họ đi chợ cùng nhau và tất nhiên là bà mẹ cô cũng cho phép họ ngủ cùng một phòng với nhau. „Nó là một người tốt bụng, chăm chỉ, bốn mươi tuổi đầu rồi mà chưa có vợ, thật là tội nghiệp” – Mẹ Eva nói với mấy bà hàng xóm như vậy.

Họ sống với nhau như cặp tình nhân, như vợ chồng và một gia đình mới hình thành. Trong khoảng năm năm, Eva sinh cho ông Bài liền ba đứa con gồm hai trai, một gái. Ông Bài mua một chiếc xe cũ sáu tuổi làm phương tiện đi chợ và mỗi khi lên Vac lấy hàng. Cuộc sống cứ đều đều như thế. Mỗi ngày ông Bài dậy từ 6 giờ sáng, uống cốc cà phê cho tỉnh táo, mang theo cái túi gồm mấy cái Kanapki, 2 quả táo do Eva chuẩn bị  rồi ra xe. Bày hàng xong cũng là lúc có người lác đác đi vào chợ. Ông Bài vừa ăn điểm tâm vừa trả lời khách hỏi giá. Chợ nhà quê nên những chuyện đó được mọi người cho là rất bình thường. Buổi chiều về, ông Bài được vợ lo cho bữa obiad theo đúng kiểu Ba Lan: Thịt bò hầm nhừ với khoai tây luộc, bắp cải non nấu nhừ hoặc salat trộn với majones. Riêng khoản bia, ông Bài tự mua lấy từ chợ về, mỗi bữa uống vài lon, tùy sức. Vào buổi tối, khi ăn kolacja gồm bánh mì và các món súc sích quê, ông Bài thường uống Vodka.

Lúc này vợ ông là „người bạn hiền tri kỉ”. Có hôm hai người cùng say, bọn trẻ cứ việc đi ngủ theo kiểu „tùy nghi di tản”. Tuy vậy, ông Bài không bao giờ bỏ chợ, mặc dù ông cảm thấy thiếu ngủ triền miên. Mỗi khi đi chợ về, ăn xong là mắt ông díp lại. Nhưng bọn trẻ chẳng bao giờ để cho ông yên, nhất là từ khi thêm thằng cu thứ ba. Thôi thì đủ các trò, chúng trèo lên đầu, đòi cưỡi lên lưng ông, bắt ông làm ngựa. Chẳng có hơi sức đâu mà chiều chúng được mãi. Ở tuổi ông, ngày xưa các cụ đã bắt khao lão. Cái tuổi „ngũ thập tri thiên mệnh” này tưởng chỉ ngồi mà hưởng lộc trời, nào ngờ ông vẫn phải khổ sở thế. Ông Bài quyết định tự bảo vệ sức khỏe của mình bằng cách ăn xong là mặc quần áo ra khỏi nhà. Lũ trẻ nhao nhao hỏi tato đi đâu. Ông chỉ trả lời ngắn gọn: do pracy. Thực ra ông chẳng đi làm gì hết, ông từ từ xuống nhà, chui vào ô tô ngủ một giấc cho lại sức để hôm sau tiếp tục „chiến đấu”.

Khi đứa con lai đầu lòng ra đời, ông Bài vừa thấy vui vì có thằng con „nối dõi tông đường” lại vừa buồn vì đã vô tình phản bội vợ và bỏ rơi đứa con gái thông minh, kháu khỉnh nơi quê nhà. Sau năm ấy ông về Việt nam gần một tháng, đưa cho vợ mười ngìn đô la dành dụm được. Ông chỉ dám kể với con gái những câu chuyện vu vơ, trống rỗng. Ông hứa với con sẽ về thăm nó luôn và đáp ứng mọi yêu cầu của nó về mua sắm. Nào ngờ thấm thoắt đã đã hơn chục năm. Ông không thể trở lại Việt Nam được nữa. Không phải ông không có giấy tờ như một số người. Ông chỉ không có thời gian và không có tiền. Một điều nữa làm ông không về được là vì ông đã không thể giấu vợ được mãi. Vợ ông đã biết được mọi chuyện qua tin của các bạn ông từ Ba Lan trở về.

Cuộc sống của ông Bài vất vả hơn kể từ khi bà mẹ cô Eva lâm bệnh, chết sớm. Việc buôn bán ở vùng nhà quê  ngày một khó khăn . Ông Bài quyết định cùng vợ bán nhà chuyển lên Vác ở. „Dù sao thì ở Thủ đô vẫn còn kiếm ăn dễ hơn, với lại người đồng hương của mình đông, cuộc sống sẽ đỡ phần cô đơn” – Ông Bài nghĩ thế. Ông dồn tất cả tiền tiết kiệm và tiền bán nhà để mua một chiếc ô tô cũ (cái trước đã bị hỏng nặng) và một cái kiôt trên chợ Sân Vận Động. Số ông chẳng gặp may. Mới buôn bán ở đó được gần một năm thì chợ bị thu lại một phần để cải tạo sân vận động. Cái quầy trên dốc Damis của ông vì thế đi tong. „Cái con ranh ấy chỉ bằng tuổi con mình, trông mặt thế mà lại là đồ lừa đảo” – ông Bài chỉ biết phàn nàn với vợ như vậy. Sống quá lâu ở vùng quê, giờ mới được lên phố, ông biết đâu được là người ta bây giờ lại đối sử với nhau „cạn tàu, ráo máng” như thế. Ông tự an ủi mình rằng có giấy tờ hợp pháp ở cái đất này thì không thể chết đói. Chỉ tiếc là quỹ thời gian của ông còn ít quá mà bọn trẻ thì vẫn còn „đỏ hỏn” thế kia.

Ông Bài thẫn thờ vào dạo chơi trong trung tâm thương mại ở vùng Wolka Kosowska. Nơi đây, người Trung Quốc dựng nên trung tâm thương mại đầu tiên nên bây giờ mặc dù đã có thêm nhiều trung tâm khác của người Thổ và người Việt nó vẫn được gọi là trung tâm Tàu. Bạn cùng Viện với ông Bài ngày xưa bây giờ đã có nhiều người khá giả, thậm chí là chủ của trung tâm thương mại. Ông Bài trình bày hoàn cảnh, ngỏ ý muốn làm một việc gì đó chỗ ông bạn vì ông đã chán quá cái cảnh ngồi chợ bán hàng. Mấy tháng vừa rồi ông đã phải bán cái ô tô để lấy tiền trang trải mọi chi phí.

- Biết cho bác làm việc gì bây giờ -Ông chủ một trung tâm thương mại vừa nói vừa thở dài – Những chỗ cần phải làm việc bằng đầu óc thì đã được bố trí cả, hay là bác nhận chân bảo vệ kho? Ở đó có Tây rồi nhưng cũng cần phải có Ta để theo dõi.

Trong cảnh „tiến thoái lưỡng nan”, ông Bài coi đó là một ân huệ mà bạn tốt dành cho mình. Từ đó, cuộc sống „công chức” lại trở về với ông.

Dù sao thì  công việc bảo vệ cũng không đến nỗi gian khổ như ông tưởng. Chỉ có điều là phải làm liên tục 24 tiếng đồng hồ, bù lại ông lại được nghỉ ngơi 24 tiếng sau đó. Bây giờ bọn trẻ cũng đã lớn hơn. Đứa bé nhất đã học mẫu giáo năm cuối nên ông Bài không bị trở ngại với giấc ngủ ban ngày. Nhưng rồi ngủ nhiều quá cũng làm ông chán mắt. Ông Bài tìm chỗ vui chơi, giải trí.

Những ngày bán hàng trên chợ Sân Vận Động ông Bài quen biết anh bạn Mohamet – người Liban có quầy hàng bên cạnh quầy ông. Lúc này, Mohamet cũng mất quầy. Anh dồn vốn liếng thuê một nhà kho, cho quét sơn lại, rải mấy tấm gỗ dán xuống nền, làm khu vực vui chơi, giải trí cho đám thanh niên. Chợ Sân Vận Động bây giờ chỉ còn lại những khu phía dưới, chủ yếu bán lẻ. Từ ngày bị thu hẹp lại, chợ chỉ họp đến 1-2 giờ chiều. Do vậy số thanh niên không thích về nhà ngủ thường về chỗ của Mohamét chơi Bi-a, bóng bàn hoặc lướt sóng trên các trang Web. Sau ngày chuyển vào trung tâm thương mại làm bảo vệ, ông Bài cảm thấy cuộc đời ông đã đi trệch khỏi đường ray của cuộc sống bình thường. Tiền lương eo hẹp chỉ đủ để trang trải tiền nhà, tiền ăn cho cả gia đình. Vợ ông không thể đi làm kiếm tiền vì phải đưa các con đi học và lo cơm nước cho chúng. Người vợ cũ và đứa con gái ở Việt Nam thì coi như ông đã chết vì chẳng trông chờ được gì ở ông cả về vật chất lẫn tinh thần. Ông bất mãn với cuộc đời, ông không còn hứng thú gì nữa ngay cả với việc vui chơi với các con trong những giờ nghỉ ở nhà. Bởi vậy, cái nhà kho – trung tâm vui chơi giải trí của anh bạn Mohamet trở thành địa chỉ thân thiết của ông. Đám thanh niên thấy ông có vợ Tây thường xúm lại trò chuyện để tìm hiểu những bí ẩn của các cô gái có màu tóc, màu lông không phải màu đen. Ông huyên thuyên với họ, ngược lại họ dạy ông đánh Bi-a, chơi tá lả. „Chú tên là Bài mà không biết tá lả là gì thì thật là quá đáng” – bọn trẻ bảo ông như vậy. Mỗi ván 5 zloty thôi mhưng cũng đủ khuây khỏa, làm cho ông bớt đi nỗi bực tức với cuộc đời.

Làm một ván cho vui - ảnh minh họa
Làm một ván cho vui - ảnh minh họa

Nhiều lúc chán đời, ông Bài có ý định muốn bỏ mặc mấy đứa con máu mủ ở đây để về sống ẩn dật nơi quê nhà. Mohamet thường chia sẻ với ông nỗi ưu tư, bởi anh cũng là người có hoàn cảnh như ông. Một hôm Mohamet gọi ông Bài vào cái kho nhỏ, giờ được ngăn ra, một phần làm văn phòng, một phần làm nhà vệ sinh cho giám đốc, tâm sự:

- Mình phải an tâm với số phận, ông bạn già ơi, có ai lẩn tránh được số phận đâu. Xem ra ông cũng chưa phải là cùng đường. Nếu muốn, ông có thể về đây cùng tôi chung sức xây dựng cái khu vui chơi, giải trí này, sẽ có tương lai sáng sủa đấy.

- Tương lai sáng sủa? Cậu nói gì lạ vậy. Hay cậu muốn biến cái nhà kho này thành Disney Land?

- Mọi cái đều có thể, ông bạn ạ. Đã có một người bạn của tôi, hiện là quan chức,  mới từ Liban qua, nói với tôi rằng nơi này sẽ là một điểm đến hấp dẫn của những người muốn tìm về „linh hồn của dân tộc”.

Ông Bài bần thần suy nghĩ: Giá kể mình không sang Ba Lan thực tập, giá kể mình không lấy vợ Tây… thì có thể mình đã là một người thành đạt, biết đâu lại được ngồi ghế nọ, ghế kia như ông bạn đó.

- Vậy thì Mohamet! cậu còn lăn tăn gì nữa, trong khi chờ đợi có tiền xây lại to đẹp hơn cậu cứ trương cái bảng hiệu lên, đại loại một cái tên gì đó rất kêu, rất ấn tượng để cho mọi người tìm đến. Cậu quả là một con người vĩ đại!

Từ hôm ấy, ông Bài thường xuyên có mặt ở khu vui chơi, giải trí. Từ trung tâm thương mại về, ông chỉ đảo qua nhà để vợ con biết, sau đó vào vui chơi với đám thanh niên. Nhiều hôm ông ngủ lại trong cái nhà kho ấy rồi đi làm luôn. Bởi vậy mà quần áo ông có khi cả tuần không được giặt. Mùi hôi của nhà kho, mùi mồ hôi, mùi thuốc lá cùng quện vào quần áo ông làm cho ông luôn nổi bật trong khoang tàu, khi ông trở về nhà.


Chú thich: -  Made in: Được sản xuất
-    Kanapki: Một loại bánh mì kẹp thịt.
-    Obiad: Bữa ăn trưa của người Ba Lan.
-    Majones: Một loại váng sữa dùng để trộn salat.
-    Kolacja: Bữa tối của người Ba Lan.
-    Do pracy: Đi làm
-    Disney Land: Khu vui chơi nổi tiếng của người Mỹ.


Xuân Nguyên - Warszawa tháng 6/2009(queviet.pl)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu