
Mỗi
lần về thăm quê tôi có thói quen là đi thăm các ông bà,
cô, chú. Được dạo bước trên những con đường làng
âu cũng là một cái thú để tâm hồn được thả về
với những kí ức ngày xưa.
Đã
không còn những con đường đất đỏ lẫn với sỏi, đá
và những ổ gà, ổ trâu. Con đường làng tuy vẫn quanh
co nhưng được trải lớp xi-măng dầy, sạch sẽ. Có lẽ
do mùa gặt đã qua lâu nên không thấy những sợi rơm
vương vãi trên đường. Cũng không thấy những đám lá
tre già bị gió thổi dạt vào đây đó. Làng tôi giờ đã
không còn một cây tre. Ranh giới của các gia đình là
những bức tường xây bằng cay xi-măng hoặc bằng gạch
cao ngang đầu người. Cánh cổng rộng và cao giữ cho
những ngôi nhà nằm im, kín đáo. Cái thời đi qua cổng,
nói trõ vào nhà ai đó hỏi thăm „bác có khỏe không”
đã qua rồi.
Tôi
đứng ngoài nhìn vào qua khe hở giữa hai cánh cổng nhà
bà cô. Trong sân vắng lặng. Chẳng biết có ai ở nhà hay
không, tôi bèn dùng tay lắc ổ khóa và cất tiếng gọi.
Một con chó to chạy ra sủa ầm ĩ. Lúc sau, mới thấy chú
em họ chạy ra đuổi con chó vào trong, mời tôi vào nhà.
Nhìn ngôi nhà mới hai tầng khang trang, tôi buột miệng:
-
Chú Khôi năm nay lên nhà mới đẹp quá nhỉ.
-
Vâng, anh lâu rồi mới về thăm quê nên không biết, chứ
chúng em đã cất nhà này được hai năm rồi. Có tiền
của vợ em gửi về chứ không làm sao mà xây nhà được.
Tôi
gật gù nghĩ Khôi nói rất thật. Nhà cô tôi vốn là hộ
nghèo trong làng. Cô là vợ liệt sỹ, chú ấy hi sinh ngay
trong trận càn đầu tiên của quân Pháp sau cách mạng
Tháng Tám. Khi hòa bình lập lại, cô tôi một mình với
đứa con gái nhỏ, cấy thuê, cấy mướn lấy gạo nuôi
con. Mấy năm sau có chú thợ mộc đến làng đem lòng yêu
thương, cô tôi nhận phận làm lẽ, hết cảnh góa bụa
nhưng vẫn nghèo. Nghèo vì chồng cứ đi xa biền biệt,
thỉnh thoảng về thăm lại tòi ra thêm một đứa con.
Thằng Khôi là con thứ hai của chú ấy, sau nó còn hai đứa
em nữa.
Tôi
được mời ngồi trên chiếc sa-lông gỗ màu cánh gián,
trong gian phòng khách rộng rãi. Bên sát tường đối diện
là chiếc bàn thờ gỗ, trạm trổ cầu kì các hình công
phượng. Trên bàn thờ vẫn còn xếp đầy những hộp
bánh, những gói mứt tết màu sắc rực rỡ. Khôi cắt
chiếc bánh Chè Lam, một đặc sản của quê hương Kinh
Bắc mời tôi cùng với chén nước lá Nhân Trần. Tôi
đang dán mắt vào những gói mứt tết trên bàn thờ bèn
hỏi:
-
Sao Tết qua gần một tháng rồi mà vẫn còn nhiều bánh
và mứt tết thế?
-
Anh ơi, đó là đồ lễ tết của các con gái bà đấy,
các thứ này giờ chỉ để trưng bày trên bàn thờ cúng
cụ cho đẹp thôi chứ không ăn được đâu, toàn là đồ
bẩn và độc hại – Khôi trả lời một cách vô tư.
-
….
-
Cả nước chè xanh bây giờ bọn em cũng không dám uống,
cho nên mời bác Chè Lam nhà mình làm và nước lá em tự
lấy từ trên núi sau nhà.
Tôi
bật cười khen chú em chu đáo, hẳn là nó biết mình ở
nước ngoài về, lúc nào cũng nơm nớp lo phải ăn uống
những đồ độc hại đang tràn ngập từ thành thị đến
thôn quê. Cũng không hoàn toàn vì những lí do ấy nhưng
chén nước lá Nhân Trần và miếng bánh Chè Lam làm tôi
cảm thấy ấm lòng trong tiết xuân se lạnh. Cô tôi từ
phòng mình đi ra, vẫn cái dáng đi còng còng và giọng nói
nhẹ nhàng đầy hơi ấm:
-
Cháu lại về thăm cô à, may mà còn gặp cô đấy, mấy
lần ốm cô tưởng đã đi theo các cụ rồi.
-
Sao cô lại nói thế, cô còn khỏe mà, cả làng chỉ còn
ba cụ cao tuổi như cô thôi.
-
Trời cho sao được vậy cháu ạ, thế bao giờ chúng mày
mới về quê để sống?
-
Dạ, cháu cũng sắp về rồi cô ạ.
-
Sắp về, rồi lại sắp về. Mày nói cũng giống như đứa
con dâu của cô ấy, đã sáu bẩy năm ở nước ngoài rồi
mà nó vẫn chưa muốn về, vợ chồng cứ xa nhau mãi chỉ
vì ham đồng tiền.
Thì
ra vợ của Khôi vẫn đang ở nước ngoài. Thím ấy được
tuyển đi làm giúp việc cho người Đài Loan đã được
bẩy năm. Khôi cho biết, thời hạn cho mỗi lần hợp đồng
là ba năm nhưng thím ấy chịu khó, ngoan ngoãn nên được
chủ nhà quí mến, cho kéo dài hợp đồng. Thấy tôi ngẩn
người suy nghĩ, Khôi nói thêm:
-
Ôi dào, bà cứ lúc nào cũng bảo con dâu về, bà mà có
chết thì nó về cũng có làm gì được hơn đâu. Ở nhà
làm gì ra mỗi tháng dăm sáu triệu. Bây giờ người ta lo
đi không được mà mình cứ muốn về. Đấy anh nhìn xem,
cả làng ta nhà ai cũng có một hai người đi làm thuê làm
mướn ở nước ngoài, có mấy sào ruộng mà nhà nào cũng
phải thuê người xã bên đến cấy thuê, gặt thuê. Năm
rồi nhà nước lấy đất làm Đô thị mới „Phú Điền”,
hết đất rồi không đi làm Ô-sin cho người ta thì lấy
gì mà tống vào mồm.
-
Vậy à, Thế thì làng mình sắp thành phố rồi nhỉ? –
Tôi mỉm cười chua xót.
-
Anh nói quá đúng – Khôi vừa nói vừa kéo tay tôi ra
ngoài sân.
Chúng
tôi cùng nhìn ra phía trước. Dưới ánh nắng hoe vàng
nhợt nhạt của mùa xuân là những thửa ruộng đã được
đổ đầy đất núi đỏ rực. Cả cánh đồng màu mỡ
trước đây đã được chia thành các khu, cách nhau bằng
những con đường rộng. Mỗi khu lại được chia thành
các lô nhỏ khoảng 100 m2.
-
Anh có định đầu tư vài lô ở đây không, chủ đầu tư
nói đang bán chạy như tôm tươi đấy.
-
Có đắt không mà dân tình mua dữ thế?
-
Rẻ nhất là 5 triệu một m2, đắt nhất khoảng 15 triệu.
Người mua đất chủ yếu là những đại gia ở nơi khác
đến trong đó có những Việt kiều ở Nga, Đức hay Ba
Lan gì đó. Mỗi lô chỉ một đến vài tỉ, có gì đâu!
Tôi
nghe mà choáng người. Thảo nào đài báo lúc nào cũng nói
kiều hối mỗi năm về nước nhiều hơn. Đã hơn ba năm
tôi mới trở về quê hương nên cảm thấy cái gì cũng
mới. Như hiểu được tâm trạng của tôi, Khôi giảng
giải:
-
Mấy năm trở lại đây người Việt ta giàu lên nhanh lắm
anh ạ. Bây giờ đến đứa trẻ con cũng không thích nhận
quà bằng hiện vật, chỉ thích quà bằng tiền. Bây giờ
biếu nhau mấy trăm nghìn đồng là điều xấu hổ. Nói
đến tiền, người ta chỉ nói đến tiền triệu, tiền
tỉ mà thôi.
-
Thế dân làng mình có tiền mua không? – Sau khi bình tĩnh
lại tôi hỏi Khôi.
-
Dân làng mình được đền bù mỗi sào (360 m2) 75 triệu,
ai cũng vui như trúng số độc đắc. Được vài trăm
triệu liền xây nhà, mua Tivi, xe máy cho con. Giờ hết tiền
rồi, còn đâu mà mua đất của họ nữa.
Tôi
nhẩm tính, vậy là chủ đầu tư khu đất mấy trăm ha
này đã kiếm được cả nghìn tỉ đồng (cho dù bôi
trơn mất cả trăm tỉ). Nhà Khôi trước đây nằm sát
chân núi. Ba năm trước Khôi có tiền vợ gửi về, mua
miếng đất 500 m2 này sát khu ruộng trồng lúa, bây giờ
trở thành miếng đất vàng.
Khôi
như đọc được những suy nghĩ trong đầu tôi cười sung
sướng:
-
Anh thấy không, nhà em bây giờ thành nhà mặt phố, thật
cứ như trong mơ.
Tôi
không chìm theo câu chuyện vui vẻ của Khôi mà quay lại
hỏi:
-
Mấy đứa con của em bây giờ sao rồi?
-
Đứa lớn mấy năm trước vào Đắc-lắc làm Cà-phê bây
giờ hai vợ chồng nó đã về cả đây. Đứa thứ 2 đang
làm ở khu công nghiệp Quế Võ, chưa lấy chồng, còn đứa
út là thằng Khang đang học lớp 10 nhưng bỏ học. Nói
đến đây Khôi bèn nói to, chõ lên căn phòng trên gác:
-
Cu Khang đâu rồi, xuống chào bác Nguyên đi, cứ suốt
ngày nằm gí trên ấy, không biết mày sẽ ra cái hạng
người gì nữa.
Thằng
Khang nghe vậy, lò dò đi xuống, tay vẫn cầm theo cái
Ipad, mỉm cười bất đắc dĩ:
-
Cháu chào bác, bác mới về thăm quê ạ.
-
Chào cháu, cháu đang làm gì trên ấy mà say sưa thế?
Không
để thằng con trả lời, Khôi nói như nhát búa bổ củi:
-
Từ ngày bỏ học nó cứ suốt ngày dán mắt vào cái
Ipad. Mẹ nó gửi về tặng sinh nhật con út đấy, để nó
chỉ có biết sống với Game, nhiều lúc gọi xuống ăn
cơm còn không được.
-
Sao cháu lại bỏ học? – Tôi quay sang hỏi Khang.
-
Bác ơi, học đến đại học cũng chả xin nổi việc thì
đi học làm gì, bố mẹ cháu không có nhiều tiền, không
có địa vị trong xã hội thì trước sau cháu cũng chỉ
làm công nhân thôi.
-
Cháu nói không đúng rồi, vấn đề là cháu có học giỏi
không chứ sao lại đổ lỗi cho bố mẹ nghèo.
Khôi
thấy tôi nói vậy bèn phân bua:
-
Cháu nó nói đúng đấy anh ạ, bây giờ tốt nghiệp đại
học hay thạc sỹ loại giỏi, muốn có việc vẫn phải
mua mấy trăm triệu thì bọn em lo sao nổi. Thôi thì cứ
đến đâu hay đến đấy. Nhờ số tiền vợ em hàng tháng
gửi về, bọn em cũng không khó khăn lắm, chúng em chỉ
mong nó không cờ bạc, nghiện hút như mấy đứa thanh
niên trong xóm, chờ đến khi đủ tuổi cho đi làm công
nhân như chị nó.
Lại
thêm một điều mới nữa. Các cụ ngày xưa nói chí phải:
„Nước nổi thì bèo nổi”. Người nông dân bây giờ
không còn ruộng, không muốn học hành thì lại có điều
kiện làm công nhân. Cũng may mà bên Bắc Ninh có mấy khu
công nghiệp, nếu không các cháu biết làm gì.
Từ
nhà Khôi trở về, tôi không đi theo con đường cũ mà
lững thững trên con đường đang trải nhựa, vương đầy
đất đỏ của khu Dự án „Phú Điền”. Hoàng hôn đang
đến gần, những tia nắng yếu ớt không đủ sức làm
ánh lên cái dáng vẻ hoành tráng của một khu dân cư mới.
Tôi thấy lạc lõng trước những khung cảnh đồng quê
mặc dù đã sinh ra và lớn lên ở chính nơi này. Bỗng
một cơn gió nổi lên, bụi bay mù mịt làm tôi phải nhắm
mắt lại. Tôi thấy như bị một sức mạnh vô hình giữ
chân lại. Hình như tôi đang đứng trên bờ ruộng lúa,
lớp đất bùn đen đang giữ chặt đôi dép cao su. Đâu
đây phảng phất mùi hương thơm ngát tỏa ra từ những
gié lúa non. Bên tai tôi đang vang lên những tiếng kêu
râm ran của các loài côn trùng trong đêm trăng mùa hạ.
Và hình như có cả những con ếch đang gọi nhau „ộp
ộp” sau trận mưa rào. Tôi thấy mình đang cưỡi trên
lưng con trâu mộng. Con trâu tham ăn, thấy tôi say sưa thổi
sáo liền liếm ngay mấy cây lúa đang trổ đòng đòng.
Tôi
lại thấy một đoàn người chân không giầy dép, quần
áo nâu sồng rách rưới tiến đến, vừa nói vừa chỉ
vào tôi hầm hầm, tức tối:
-
Ai đã cho các người về đây cướp đất của quê ta.
Các người có biết rằng hàng trăm năm nay các bậc tiền
bối đã phải đổ bao mồ hôi, máu và nước mắt để
dọn hết sỏi và đá núi, gánh bùn từ bờ sông lên cải
tạo đất mới có được những thửa ruộng màu mỡ. Các
người có biết cánh đồng này đã nuôi sống bao nhiêu
thế hệ, đã từng là vựa lúa nuôi quân qua bao cuộc
chiến chống giặc ngoại xâm. Các người thật phũ phàng,
đem đất và đá núi trở lại đây, để làng quê này
bây giờ chỉ còn một hy vọng nhỏ nhoi là được sống
như cây tầm gửi vào những dự án thối tha của các
người.
Tôi
sợ hãi nhìn đoàn người rũ rượi như những bóng ma,
vừa la vừa khóc. Hình như họ thương cho số phận những
đứa trẻ đang lớn lên ở đây hơn là cho chính họ.
Một
tiếng „két” đanh đúa phát ra sau lưng. Tôi bừng tỉnh,
đã thấy một chiếc ô tô vừa phanh lại, ô tô của một
đại gia đến xem và mua đất. Người lái xe mở cửa,
nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi sững sờ còn chưa biết nói
gì thì đã thấy anh ta chui vào trong xe nói với ông sếp:
-
Thằng cha này hình như vừa bị vợ đuổi ra khỏi nhà.
Tôi
giơ tay, nói lời xin lỗi rồi vội vã quay trở lại con
đường làng quanh co, yên ả.
Vác-sa-va,
tháng 3/2017Xuân Nguyên