2022-01-16 03:35:55

Đài Loan đã đối phó tốt với dịch COVID-19 – Bài học quan trọng cho Ba Lan

Đài Loan là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ghi nhận các trường hợp lây nhiễm coronavirus. Các biện pháp hạn chế đầu tiên ở đây được đưa ra vào tháng 1 năm 2020. Tuy nhiên, hòn đảo này đã chịu ít thiệt hại về người và kinh tế hơn nhiều so với các nơi khác. Số người chết vì COVID-19 thậm chí không đến 1.000 người. Tiến sĩ Michał Chudzik, chuyên gia, điều phối viên của chương trình Stop Covid, sẽ cho chúng ta biết bài học quan trọng nhất đối với Ba Lan từ những kinh nghiệm ở Đài Loan.

Joanna Rokicka (phóng viên Medonet): Ba Lan đang ở đỉnh cao của làn sóng thứ tư, trong khi Đài Loan đang trải qua đại dịch với rất ít ca nhiễm trùng và tử vong, không bị thiệt hại về kinh tế và những hạn chế luôn ở mức thấp. Điều gì đã đóng góp vào thành công này?

Tiến sĩ Michał Chudzik: Đây là những so sánh khó, tôi không muốn bình luận về kinh tế học vì tôi cảm thấy không đủ năng lực. Khi chúng ta xem xét các hoạt động y tế ở các nước châu Á, nơi có khả năng đối phó với đại dịch tốt hơn, rất tiếc là chúng ta phải thừa nhận rằng các quyết định cương quyết của các chính phủ trong khu vực này đã có tác dụng lớn trong việc chống lại đại dịch. Đây là những quốc gia kém dân chủ và ít tôn trọng quyền tự do dân sự. Nhưng trong lúc khó khăn như vậy, sự tự do thái quá sẽ không phát huy tác dụng. Với các bệnh truyền nhiễm, quy luật hàng trăm năm nay là cách ly,không tiếp xúc, giữ khoảng cách, rửa tay, che miệng và mũi. Đây là những phương pháp đơn giản nhưng được thực hiện rất tốt ở những quốc gia này. Tại Đài Loan, số ca nhiễm tính từ đầu đại dịch đến nay là 17 769 và số người chết do COVID-19 chỉ là 851 người.

J.R: Chính phủ của quốc gia châu Á này đã thể chế hóa việc đưa tin của các phương tiện truyền thông về đại dịch. Họ tập trung vào thông tin và giáo dục đáng tin cậy. Ông có nghĩ rằng nó cũng nên được như vậy với chúng ta?

M.C.: Chắc chắn là nên. Nếu trong nội bộ của liên minh cầm quyền có những tiếng nói khác nhau liên quan đến việc hạn chế và tiêm chủng, thì công dân Ba Lan sẽ nhận được thông điệp của chính phủ với những nội dung khác nhau và không thấy sự thống nhất của chính phủ. Tôi tin rằng các đảng đối lập đã thể hiện sự thống nhất về quan điểm hơn là đảng cầm quyền trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, thông điệp truyền thông ở nước ta luôn mâu thuẫn. Khi nhiều quốc gia châu Âu đã chính thức ra lệnh hủy bỏ các sự kiện có đông người tham dự thì chúng ta đã có một đêm giao thừa hoành tráng. Điều này mang đến một thông điệp cho những người dân ở Ba Lan, rằng nếu hàng nghìn người đang tận hưởng niềm vui ở Zakopane thì tại sao chúng ta lại nên hạn chế bản thân? Nếu sau đó bộ trưởng y tế có mặt và nói rằng đang có đại dịch và phải đeo khẩu trang, thì điều đó nghe có vẻ buồn cười.

(Đài Loan: Việc đeo khẩu trang là bắt buộc đối với mọi người từ trẻ em, kể cả người đang lao động)

J.R: Có phải thành công của Đài Loan không phải do mức độ nghiêm trọng của các hạn chế, mà là do hiệu quả của chính sách của họ.

M.C.: Các quốc gia như Đài Loan có thể đề ra các chính sách mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các mối liên hệ với bên ngoài. Trong khu vực châu Âu của chúng ta, không thể đóng cửa đối với những người đến từ bên ngoài lục địa. Ở Đài Loan, càng dễ làm hơn vì ở đó dân số ít hơn. Ở Ba Lan, ngoài sự thiếu đồng nhất của thông điệp, việc các nhân vật của công chúng vi phạm lệnh cấm đã khiến xã hội mất lòng tin vào chính phủ. Các nhà cầm quyền thì thiếu sự quyết đoán, họ coi việc làm hài lòng dân chúng quan trọng hơn việc quan tâm đến sức khỏe toàn cầu.

Tôi nghĩ rằng ở nhiều nước châu Âu, khía cạnh y tế chiếm ưu thế, không phải chính trị. Tất nhiên, có những cuộc chống đối ở nhiều nơi, nhưng điều đó chỉ đúng với thiểu số và nó vẫn phải theo đa số, ngay cả khi họ cảm thấy rằng quyền tự do của mình đang bị hạn chế. Nhưng nhờ điều này mà chúng ta bảo vệ được tính mạng của người già và người bệnh. Nhưng ở nước ta, hôm nay chúng ta vẫn không khảng định được điều này.

J.R: Hiện ở Ba Lan, hàng trăm người chết mỗi ngày vì COVID-19, và từ đầu đại dịch, hơn 100.000 người đã tử vong. Điều gì có thể đã được thực hiện tốt hơn?

M.C.: So với các nước châu Âu có tỷ lệ tử vong thấp hơn, chúng ta chưa đạt được mức tiêm chủng như họ, thí dụ như Pháp hay Tây Ban Nha. Bên cạnh đó, chúng ta vận hành theo hệ thống cũ: Khi có tình huống nguy cấp, gia tăng bệnh tật, tử vong thì mới hành động, không có những hành động đi trước.

Một năm rưỡi trước, vào mùa hè, người ta đã thông báo rằng cuộc chiến chống lại coronavirus đã thắng. Tất cả mọi người đều đi nghỉ hè, và vào tháng 10, số ca nhiễm tăng trở lại. Không có những bệnh viện dự phòng được chuẩn bị trước đó. Đầu tiên, các bệnh viện bình thường không có chỗ, ngăn chặn khả năng điều trị cho bệnh nhân COVID-19, sau đó các bệnh viện cấp cứu tiếp nhận bệnh nhân COVID-19, nhưng không thể điều trị những bệnh nhân ung thư hoặc cần phẫu thuật. Theo cách này, việc tiếp cận điều trị các bệnh khác rất khó khăn.

J.R: Các số liệu thống kê về bệnh nhân tử vong do COVID-19 ở Ba Lan là đặc biệt đáng lo ngại. Tại sao, không giống như Đài Loan, chúng ta đã không tránh được rất nhiều ca chết quá mức?

M.C.: Ở Ba Lan, một nửa số ca tử vong là những bệnh nhân không bị COVID-19. Tuy nhiên, khi nói về dịch vụ y tế, chúng ta vẫn có một tổ chức tồi ở cấp quản lý , tức là chúng ta không có những nhà quản lý giỏi trong ngành y tế. Đội ngũ này đơn giản là yếu, không nhìn thấy được năng lực của họ. Đây là những yếu tố làm chậm hành động chống lại đại dịch. Virus luôn đi trước chúng ta, và chúng ta lại còn chậm hơn hai tháng so với những gì đang xảy ra ở Tây Âu. Do vậy, mặc dù chúng ta đã có một tín hiệu cảnh báo, nhưng vẫn không thể làm gì được.

J.R: Ở Đài Loan, các biện pháp phòng chống đại dịch như khẩu trang, lockdown và truy tìm người nhiễm trùng đã chứng tỏ giá trị của chúng. Theo ông, những hạn chế nào nên được áp dụng ở Ba Lan trong giai đoạn đại dịch này?

M.C.: Tôi thấy rằng ngay cả những việc đơn giản như kiểm soát hành vi trong các cửa hàng - che mũi và mồm, hạn chế số người có thể vào, giao dịch. Nếu chúng ta yêu cầu đeo khẩu trang trong các trung tâm mua sắm, thì phải chấp nhận và phạt những trường hợp không chấp hành. Tất cả chúng ta phải nỗ lực chung. Cũng giống như giao thông đường bộ - chúng ta phải hạn chế tốc độ hoặc nộp phạt. Tại sao tôi phải nộp phạt khi lái xe không thắt dây an toàn, trong khi người khác không nộp phạt vì không đeo khẩu trang? Bạn cũng có thể nói rằng dây an toàn cũng hạn chế sự tự do của bạn. Tại sao không thể nói chuyện điện thoại khi đang lái xe hoặc đỗ xe ở nơi bị cấm? Vì có lệnh cấm. Điều này cũng đúng với các hạn chế đối với COVID-19.

J.R: Chúng ta sẽ rút ra kết luận nào từ bài học của người Đài Loan? Ông nghĩ tình hình đại dịch ở nước ta sẽ phát triển như thế nào?

M.C.: Về việc xây dựng kịch bản, tôi nghĩ chắc chắn một điều: mọi thứ đều không thể đoán trước được. Đột biến có nghĩa là không có logic hoặc không có cách nào để kiểm soát nó. Chúng ta có một số lượng khổng lồ những người chưa được tiêm chủng, thí dụ gần như toàn bộ châu Phi, và đây là nơi lý tưởng cho các đột biến tiếp theo và sự lây lan của vi rút. Đây không phải là một đại dịch khép kín trong một khu vực nhỏ. Đây là đại dịch toàn cầu, virus sẽ tồn tại và tiếp tục đột biến. Chúng ta chỉ có thể trông chờ vào một chút may mắn.

J.R: Chúng ta ngày càng nghe nói nhiều hơn về sự cần thiết phải dùng liều vắc xin thứ tư. Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng chúng ta không thể tiêm chủng vô thời hạn, ông nghĩ thế nào?.

M.C.: Tôi cũng tin rằng sẽ cần một liều tăng cường sau mỗi khoảng thời gian 5-6 tháng, nhưng nó sẽ không đủ mạnh để ngăn ngừa tử vong ở người cao tuổi một cách hiệu quả. Chúng ta có thể thấy rằng hiệu quả tiêm chủng ở những người này không tốt như chúng ta mong đợi một năm trước. Và với góc nhìn này, đối với những người cao niên mắc nhiều bệnh nền còn đáng lo ngại hơn.

Hiện nay, rất khó để xây dựng một kịch bản, bởi vì cần phải lựa chọn xem chữa cho ai, cứu ai trước. Hãy nhớ rằng nếu chúng ta có một khoa với 20 giường trong một bệnh viện Ba Lan và bốn bệnh nhân trong đó mắc COVID-19, thì khoa chữa bệnh nhỏ này sẽ trở nên chật chội ngay lập tức và tất cả hai mươi nơi đều bị chặn. Một bệnh nhân bị COVID-19 có thể làm cho khoảng hơn chục người khác không được điều trị.

J.R: Ông là người chịu trách nhiệm điều trị các biến chứng hậu covid. Ông có nhận thấy bất kỳ xu hướng mới nào trong di chứng của COVID-19 không?

M.C.: thể thấy diễn biến của bệnh nặng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến chứng sẽ như thế nào so với giai đoạn đầu của đại dịch thì cần phải đợi thêm vài tháng nữa. Chúng ta chắc chắn sẽ không có khoảng thời gian nghỉ ngơi nào giữa Delta và Omicron để tìm hiểu việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân hậu covid. Cho đến nay, luôn luôn có ba hoặc bốn tháng khá bình thường. Bây giờ sẽ không có nữa. Đối với bệnh nhân covid, tất nhiên sẽ có giường cho họ, nhưng điều đó sẽ ngăn chặn việc điều trị cho những bệnh nhân không covid.

Xuân Nguyên

(Nguồn: https://www.medonet.pl/koronawirus/koronawirus-na-swiecie,tajwan-poradzil-sobie-z-epidemia--polska-powinna-wyciagnac-z-tego-lekcje,artykul,80809826.html)

 

Sửa lần cuối 2022-01-16 03:35:55

Bình luận

Bình luận qua Facebook