2019-03-17 09:48:10

Chuyện kể - Thầy

Tác giả: Thiên Nam (Lê Huy Thọ)

TS Lê Huy Thọ (1953-2000)

BBT- Quê Việt, báo của Hội người Việt Nam tại Ba Lan sắp sửa tròn tuổi 20 (24/04/1999-24/04/2019).
Từ buổi ban đầu mới ra đời, QV đã có được một đội ngũ với khá nhiều cây bút xuất sắc. Cuộc mưu sinh nơi viễn xứ của người Việt, với nhiều mảng đề tài khác nhau đã được các tác giả thể hiện qua những trang viết bằng nhiều thể loại như truyện ngắn, tùy bút, thơ  ...
Nhân dịp 20 năm báo QV, chúng tôi xin trân trọng chọn và đăng lại trên báo mạng queviet.eu một số bài viết, truyện ngắn ...mà trước đây đã được đăng trên báo giấy QV.
Xin giới thiệu với quý bạn đọc, chuyện kể "Thầy" mà tác giả nguyên là Tổng biên tập đầu tiên của báo Quê Việt - Tiến sĩ Lê Huy Thọ (1953-2000) với bút danh Thiên Nam. "Thầy" đã được đăng trên báo QV, số 29, tháng 11/2001.

***

Lời giới thiệu 

     Tròn một năm kể từ khi Thiên Nam từ giã cõi trần (7/11/2000 - 7/11/2001). Tôi nhớ vào một đêm cuối năm 1996, tuyết rơi trắng trời Warszawa, tôi đến nhà Thiên Nam, phần vì công chuyện làm ăn, phần nữa để khuây khỏa nỗi buồn của một kẻ tha hương trong những ngày chuẩn bị đón năm mới. Trong khi đàm đạo chuyện đời, Thiên Nam tâm sự với tôi: “Đâm lao thì phải theo lao, chứ cái cảnh đầu tắt mặt tối, đua chen buôn bán nơi xứ người này mãi thì ngán ngẩm lắm. Mình muốn sau này về Việt Nam, có thời gian sẽ viết chuyện, làm báo ...Ở bên này mình đã để ý quan sát, ghi lại khá nhiều điều có thể viết thành truyện được”. Sau đó anh thong thả lục trên giá sách đưa cho tôi bản thảo viết tay chuyện kể "Thầy tôi" (sau này nhan đề của chuyện anh chỉ giữ lại chữ Thầy). Và rồi, những nhân vật, những tình tiết và những câu chữ của anh đã cuốn hút tôi đọc liền một mạch cho đến hết. Thật là cảm động, cay đắng và tuyệt vời!
     Điều làm cho tôi hết sức ngạc nhiên, khâm phục là trong những ngày tháng quần quật, bươn chải kiếm tiền, hầu như không có một ai ở cái xứ này nghĩ đến văn chương, thế mà anh – một “trí thức nông dân”, với hoàn cảnh suốt ngày vợ y
ếu con đau vẫn có thể viết được như vậy.
     Thầy – một câu chuyện mà các nhân vật, sự kiện, tình tiết là có thật (gần như) mt trăm phần trăm. Chính vì lý do đó mà Thiên Nam gọi tác phẩm của mình là chuyện kể chứ không phải Truyện ngắn. Có một thời gian ở Warszawa, tôi đã sống trong một căn hộ cùng với Thầy và chị bạn của Thầy. Thầy – nhân vật chính trong chuyện kể cũng chính là thầy của tôi, một nhà khoa học, một nhà giáo "vừa hồng vừa chuyên" mà suốt một thời được chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ và tôn kính.
Một năm sau khi viết xong, chuyên kể Thầy được đăng tr
ên Diễn Đàn (số 61- 3/1997), một tờ báo hải ngoại mà ban biên tập gồm nhiều trí thức Việt kiều ở Pháp. Có thể ai đó nghĩ rằng, Thiên Nam có vấn đề về tư tưởng chính trị. Riêng đối với tôi, chuyện kể Thầy là một kỷ vật quý giá tạo nên bởi ngòi bút tinh tế, nhạy cảm của một con người có bản lĩnh muốn nhìn thẳng vào sự thật: một sự thật đẹp đẽ, một sự thật phũ phàng và một sự thật đau xót.
Nhân ngày giỗ đầu của anh, và cũng nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, để tưởng nhớ tới anh, chúng tôi xin trân trọng gi
ới thiệu với quý bạn đọc chuyện kể “Thầy “của nhà văn Thiên Nam, nguyên Tổng biên tập đầu tiên của báo Quê Việt.

Warszawa, đêm 07/11/2001

Vũ Linh

THẦY


Ai lên ải Bắc ngày xưa ấy

Khóc tiễn cha đi mấy dặm đường

(Tố Hữu)

     Tự nhiên nước mắt tôi cứ ứa ra khi ngồi nhìn thầy dùng bàn là điện cẩn trọng là phẳng từng tờ đô. “Phải chọn nấc nhiệt độ thích hợp – thầy giảng giải- nguội quá, các nếp gấp trên giấy bạc sẽ khó mất. Ngược lại, chỉ hơi nóng quá một tí thôi là sẽ để lại vết là nhẵn bóng, khi mua hàng, chủ hàng khó tính nó sẽ không nhận”. Cứ sau vài nhát là, thầy lại cầm tờ đô giơ cao lên, ngắm nghiêng, ngắm phẳng, hệt như ông thợ mộc lành nghề đang bào để vào mộng một chi tiết khó trong chiếc tủ gương. À, mà sao tôi lại phải đi ví von khập khiễng thế nhỉ. Không cần phải ví với ông thợ mộc nào cả. Tôi nhớ lại từng động tác của thầy trên bục giảng: những đường phấn kẻ rất thẳng, dấu tích phân (1) lượn thật gọn mà thật khéo. Và, giọng giảng bài của thầy: điềm đạm, từ tốn.

     Hết mấy tờ đô phải là, thầy thận trọng dựng chiếc bàn là lên mặt bàn, không tắt điện mà vặn xuống nấc thấp để chờ mẻ đô mới chị bạn thầy đang rửa trong toa lét. Xong, thầy ngẩng lên đưa tay vuốt ngược mớ tóc bết mồ hôi trên trán. Chao, tóc thầy đã bạc nhiều thế ư? Tôi nhắc lại cùng thầy vài kỷ niệm cũ và rưng rưng đọc thầy nghe một đoạn thơ của bạn Cầm, trong đó có câu: “ Ơi tóc thầy, tóc chớ có bạc thêm”. Thầy nhìn tôi, cười rất vui. Đôi mắt thâm quầng sau một đêm căng thẳng, thiếu ngủ, ánh lên những nét tươi tắn, trẻ trung – là một nhà toán học nhưng thầy rất yêu thơ.

     Chị bạn thầy từ trong toa lét bước ra, tay cầm một tập đô dày, ướt sũng, gồm có tờ năm mươi, hai mươi, mười, thậm chí có cả tờ năm đô! Vừa đi, chị vừa vẩy vẩy cho tập đô cho ráo bớt nước, không để ý, suýt nữa chị vấp vào tôi vốn đang ngồi bệt giữa sàn nhà, ngay lối đi vào, với cốc bia, và thơ. Nhận ra tôi là người lạ, chị có vẻ ngượng với cái mùi thức ăn ở ruột già thum thủm bốc ra từ mấy tờ đô. Để chị đỡ ngượng, thầy đón lấy tập đô từ tay chị và nhanh nhẹn với hộp xịt Hungari để trên nóc tủ. Vừa say sưa nghe tôi đọc những câu thơ đắc ý, thầy vừa dàn lật mớ đô la và cẩn thận xịt thứ nước thơm Hungari lên khắp từng tờ đô. Rồi, vặn bàn là lên đúng nấc, thầy tiếp tục công việc. Khi bàn là chạm vào tờ đô, hôi nóng làm thăng hoa chừng ấy thứ mùi cùng một lúc: mùi nước thơm Hungari, mùi thức ăn đã tiêu hóa kỹ, và thơ.

     Tất cả quyện vào nhau trong căn phòng nhỏ đóng kín cửa và không biết do ơn huệ từ đâu, lò sưởi cực nóng. Ngột ngạt. Ngoài trời tuyết rơi dày, bám đầy lên cửa sổ.

Tôi biết thầy đã lâu, khi tôi mới ngỡ ngàng bước chân vào đại học. Khi ấy tôi là sinh viên nông dân mặc áo lính: danh hiệu ghi sinh viên, bản chất nông dân, áo quần bộ đội. Sau năm năm, trải ba số phận: số phận thằng Bờm, số phận cụ Tú Xương, cụ Đoàn Viên; gữa ba chức danh: Trí thức cày ruộng, Dân công hỏa tuyến, Bộ đội tình nguyện, từ cao nguyên Xiêng Khoảng tôi được giải ngũ về quê. Rồi, không biết do sự sơ xuất của ông phó chủ tịch xã phụ trách nội chính, hay do sự rộng lượng của chính quyền địa phương, mà tôi nhận được giấy báo vào đại học, cắt chuyển hộ khẩu, lương thực rất sớm và cực kỳ trót lọt. Vào trường, nhận phòng, nhận giường xong xuôi rồi mà tôi cứ không tin là thật.

     Chúng tôi, những người bộ đội, thanh niên xung phong về học, được trường gọi nhập học sớm hơn các bạn từ học sinh phổ thông lên một tháng. Trường tổ chức chúng tôi thành hai lớp ôn tập: tự nhiên và xã hội. Người hướng dẫn bọn tôi ôn tập môn hình học là một thầy giáo trẻ. Những cậu thạo tin trong lớp cho hay: thầy tốt nghiệp bằng đỏ trường Lô-mô-nô-xốp về. Những bài hình học khó, dưới viên phấn của thầy, trở nên minh bạch, thật đáng yêu. Tôi vốn xuất thân ở xó rừng Con Cuông. Thầy dạy toán giỏi nhất trường cấp ba của chúng tôi hè nào cũng phải về Vinh sôi kinh nấu sử cho kỳ thi tốt nghiệp cử nhân. Có lẽ vì vậy mà tôi ngồi nghe thầy bằng đỏ giảng hình cứ như được ăn cơm với thịt (từ bé tôi vốn không biết là thịt rất ngon). Những lúc đắc ý, ngồi dưới lớp tôi cứ thì thầm: thế mới gọi là bằng đỏ chứ, thế mới là Liên Xô, thế mới là nước Nga! Có những lúc nghe giảng say sưa quá, tôi há hốc mồm ngồi… mơ nước Nga, đến nỗi thằng bạn người Hà Nam ngồi bên cạnh phải lấy quyển vở che khéo miệng tôi lại và nhắc: mày quê quá.

     Nhưng , thầy của tôi không phải là ông thầy trẻ ấy. Ông thầy trẻ không biết giảng đại số, chỉ biết giảng hình học, hay ít ra ông ấy tỏ ra như vậy. Còn một tuần nữa thì kết thúc khóa ôn tập, cô giáo chủ nhiệm (cũng tốt nghiệp bằng đỏ ở Nga về, hình như ở Kiép – xin bạn đọc lượng thứ, trong tiềm thức của chúng tôi và của không ít người dân Đông Âu, tất tật các xứ của Liên bang Xô Viết cũ đều là Nga, là Rusia tuốt) –xin nhắc lại – cô giáo chủ nhiệm xin trân trọng giới thiệu với chúng tôi một ông thầy mới. Cô bảo: tuần cuối này, tất cả các giờ toán sẽ do thầy mới giảng. Chao: cả hình học, cả đại số, cả lượng giác – một vị bách khoa! Các nguồn thạo tin cho hay: thầy là cán bộ đầu đàn của ngành toán, phó tiến sĩ toán học vào loại sớm nhất của nước ta tốt nghiệp ở Liên Xô. Ôi, nước Nga, cái nôi của văn minh, thành trì của khoa học! Chúng tôi hồi hộp chờ thầy như trẻ con ngồi chờ xem ông khổng lồ hiện ra từ những trang cổ tích. Nhưng thầy không phải là ông khổng lồ. Thầy giản dị lắm. Thầy muốn góp phần giúp chúng tôi, những người bị thiệt thòi, sớm theo kịp chúng bạn trên con đường học vấn. Trong ba tiết học đầu, thầy tóm tắt gọn gàng tất cả các điểm chốt của cả ba môn học: hình, đại, lượng của bậc phổ thông. Sáu tiết sau, thầy đưa chúng tôi lạc vào thế giới của toán học cao cấp lúc nào không hay. Dưới viên phấn của thầy hóa ra toán học cao cấp cũng chả phải là cái gì ghê gớm lắm. Cái dấu tích phân (1) gọn và khéo mà tôi nhắc ở đầu chuyện chính là từ sáu tiết giảng này đây. Giờ giải lao,thầy không ra ngoài mà ở lại trong lớp hỏi chuyện chúng tôi. Thầy hỏi về rệp ở ký túc xá và những cơn sốt rét còn dây dưa ở một vài người, trong đó có tôi. Lúc đó tôi cảm động ứa nước mắt. Chúng tôi háo hức đề nghị thầy kể cho nghe về nước Nga văn minh và vĩ đại. Thầy từ tốn bảo: nước Nga tiến cách chúng ta rất xa. Nước Nga có một nền khoa học kinh viện hàng đầu, một nền kỹ thuật tương đối phát triển. Nhưng, thầy nói chữ nhưng gần như thầm thì, về trình độ văn minh thì nước Nga thấp hơn nhiều nước, chẳng hạn Ba Lan, Cộng hòa Dân chủ Đức, Pháp. Mặc dù rất kính trọng thầy, ngưỡng mộ là đằng khác, nhưng những kiến thức tôi đã ki cóp được từ tấm bé cho đến lúc ấy cứ lặng lẽ vẽ lên trong đầu tôi một dấu hỏi lớn: Liệu thầy có tư tưởng xét lại không?

     Là dân gỗ nên tôi học rất chăm chỉ. Tuy chưa lần nào tôi dược kiến diện một ông đò xứ Nghệ nào, nhưng tôi tự thấy trong mình có giòng máu của họ: trọng sự học, coi thường nghèo khó. Nhờ thế, ơn trời, hai năm đầu tôi là học sinh xuất sắc của trường. Và cũng nhờ thế, ơn trời, thầy biết và quen đến tôi.

     Số là vào năm học thứ ba, nhân dịp lễ 20 tháng 11(2) một thầy thuộc chân loong toong ở phòng giáo vụ ( lúc ấy tôi nghĩ thầy này chức to lắm chứ không phải là chân loong toong) mới gọi tôi lên giao cho nhiệm vụ thay mặt học sinh toàn trường đọc một bài đít cua dài mười phút chúc mừng các thầy cô giáo ở hội trường lớn. Tôi chuẩn bị bài đít cua rất kỹ, rất văn chương, mặc dù tôi học ngành khoa học tự nhiên. Có lẽ đấy là tại cái máu xứ Nghệ của tôi (cũng lạ, cái xứ quanh năm ngày tháng toàn nhút (3) với tương mà, cứ mười người thì chí ít cũng phải có bảy người thích thơ và tập tọng làm thơ). Tôi còn nhớ rõ cảnh toàn hội trường im lặng cảm động ngồi nghe bài đít cua của tôi, nhất là đoạn tôi nhắc lại về tình cảm thầy trò trong chiến tranh, có mượn đoạn thơ sau đây cảu bạn Đỗ Minh Tuấn:

Ngả ba lô tôi đi tìm đồng hương

Quân đông nên cái nhìn rất vội

Từ cuối hành quân bỗng bung lên tiếng gọi

Bóng tô châu ùa lại phía tôi

Sung sướng run người, tôi reo khẽ: Thầy!

Nòng súng AK và hai cánh tay

Cùng choàng lên tôi âu yếm

Trí óc tôi chợt bừng sôi kỷ niệm

Năm tháng sinh viên và những mái trường

Tiếng giảng bài của thầy át tiếng bom rung

     Hai tai nóng bừng, tôi trở về hàng ghế đại biểu trong tiếng hoan hô ran hội trường. Một bàn tay dịu dàng đặt lên vai tôi và giọng nói thật hiền: “Nam đọc bài phát biểu thật hay” (Nam là tên tôi). Tôi ngẩng đầu lên: thầy! Vậy là thầy đã biết tên tôi, thầy quen đến tôi. Vinh dự và cảm động làm tôi quên hẳn về tư tưởng xét lại có thể có ở thầy thủa xưa.

     Thầy rất mô phạm. Mặc dù đảm nhiều chức vụ nhưng thầy không bao giờ chịu giảm giờ lên lớp. Tuy không trực tiếp học với thầy, nhưng từ sau buổi 20 tháng 11 ấy, tôi rất được thầy ưu ái. Thầy sống chừng mực, gương mẫu, giản dị và đại chúng. Thỉnh thoảng được thầy mời đến nhà chơi, nên tôi được chứng kiến nhiều bình diện tiếp xúc của thầy. Với ai cũng vẫn một phong thái ấy, một niềm tự tin ấy. Nhìn ngài bộ trưởng, ánh mắt thầy không ngưỡng mộ, không khúm núm. Nhìn bà nhà ăn, ánh mắt thầy không thương hại, không ban ơn. Chẳng bù cho ông hiệu phó trường tôi (sau này lên chức cốp): có lần tôi thấy ông tiếp một chuyên gia Nga. Tan học, tôi đi từ trên giảng đường xuống, gặp ông cùng ông chuyên gia nọ đi từ dưới cầu thang lên. Ông Ta người thấp bé, ông Tây người cao to. Họ vừa đi vừa nói chuyện với nhau bằng tiếng Nga. Bất chợt tôi bắt gặp ánh mắt ông Ta nhìn ông Tây. Suốt đời tôi không quên dược ánh mắt ấy: nó đầy ngưỡng mộ và đầy kỳ vọng của một tinh thần nhược tiểu. Thầy cuả tôi không thế.

     Là một nhà toán học nhưng thầy rất yêu thơ. Thầy rủ tôi đến nhà cũng chủ yếu là để nói chuyện thơ. Thầy bảo: nói chuyện với Nam vừa tầm mình, nói chuyện với mấy cậu khoa Văn sợ không hợp. Lần thầy được in cuốn giáo trình Phương trình vi phân (4), thầy làm một bữa liên hoan nhỏ bằng phần tiền nhuận bút khiêm tốn và khách mời chỉ có mỗi mình tôi. Căn hộ trong tòa nhà lợp giấy dầu ở khu tập thể Bách Khoa gồm chái bếp, phòng ở và hiên nhà. Đêm mất điện. Vợ con thầy ăn ở dưới bếp. Tôi và thầy trải chiếu cói ngồi ngoài hiên. Một trời đầy trăng. Một cút rượu nút lá chuối khô. Hai chén hạt mít. Một bát chiết yêu đầy chuối xanh với ốc bươu nấu giả ba ba. Một đĩa lạc rang rất khéo. Và tất nhiên, một âu đầy cơm gạo quê (ngày thường, cũng như lũ sinh viên chúng tôi, gia đình thầy ăn gao mậu (5)). Chúng tôi mừng một công trình toán học bằng một… đêm thơ. Mở đầu, vì ngồi ngoài hiên nên tôi đọc thầy nghe mấy câu của bạn Cầm:

Tôi cay đắng nhiều năm….

Thôi chẳng kể

Trăm ngàn đêm trú tạm mái hiên người

Đi quan vạn hội hè, ôm mặt khóc

Cỏ xanh trầm, câm lặng búp đa rơi.

     Không ngờ thầy ôm mặt khóc thật. Tôi bàng hoàng: hóa ra đời thầy cũng có uẩn khúc? Rồi, thầy đọc tôi nghe một số bài thơ thầy làm ở quê hương Pushkin, ở quê hương Anatole France. Thơ thầy không hay nhưng có hồn. Một hồn thơ tự tin, không vay mượn và đượm tình cố hương. Vui chuyện thầy bảo: người Việt mình không ngu, chỉ có điều hoàn cảnh lịch sử nó làm mình dốt, mình lạc hậu. Phải học thôi Nam ạ. Chỉ có khoa học và kỹ thuật mới làm người Việt mình mở mày mở mặt ra được. Tôi chưa ra nước ngoài lần nào nên không có được cái tầm nhìn của thầy. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ như các cụ đồ bảo: cái chữ là cái quí lắm chữ hơn nhiều tiền. Và, cố cái bằng đại học, hay cao hơn, cái bằng phó tiến sĩ, để đem tiếng thơm lại cho gia đình và cho xứ Con Cuông khỉ ho cò gáy của tôi. Tuyệt nhiên không đến tầm yêu nước. Cũng không có chuyện tiền nong.

     Năm tháng cắn đuôi nhau trôi đi. Các cụ bảo: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, quả có vậy. Thầy có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tư cách của tôi sau này: không ngạo mạn, nhưng không nhược tiểu. Ra trường, tôi theo gót thầy: cũng sư phạm và mô phạm. Có lần ở chợ Xanh, tôi tư duy quá lâu trước mớ rau muống già, làm chị hàng rau phát cáu mới buột miệng: “ Nghe giọng nói biết ngay không mua được rau bà đâu”. Tôi điếng người. Thật “cơm áo không đùa với khách thơ”.

     Rồi số phận run rủi tôi đi Tây. Từ đó tôi xa thầy và gần như quên thầy. Nền văn minh vật chất phương Tây nó làm hư tôi. Bảo vệ xong cái phó tiến sĩ, thay vì về làm rạng rỡ xứ Con Cuông khỉ ho cò gáy của tôi, thay vì làm khoa học, tôi ở lại đi buôn, hay nói theo ngôn ngữ mới là làm nhà doanh nghiệp. Nhưng, nhọc nhắn lắm bạn đọc thân mến ạ. Chắc bạn đã nghe câu, hình như của cụ Mác, đại ý nói: thời kỳ tích lũy tư bản được ghi bằng máu và nước mắt. Về thời kỳ tích lũy tư bản của tôi và chúng bạn, có dịp tôi sẽ kể bạn nghe. Đây đang nói chuyện thầy tôi. Sau khi Đông Âu đổi mới, thầy có qua lại đây mấy lần, nhưng tôi chỉ nghe tin mà không gặp. Nghe đâu một lần thầy đi dự hội nghị toán học quốc tế ở Hà Lan về ngang qua, một lần thì thầy được mời sang giảng một chuyên đề ở trung tâm toán học Banach. Số tôi sinh ra ở xó rừng nên đi Tây cũng lại phải ở nơi heo hút, không được ở thủ đô. Vậy nên thầy trò mới không gặp được nhau. Lần này thầy được ở lâu. Tôi thì cũng đã chuyển lên thủ đô để thuận tiện doanh nghiệp. Gặp lại thầy, cái máu mê thơ tưởng đã chết lạnh trong tôi bỗng lại thức dậy. Thầy trò tâm đắc lắm. Thầy vẫn như xưa: điềm đạm, từ tốn, tự tin và… yêu thơ.

     Tối đó tôi ngủ lại cùng thầy. Nhà có mỗi chiếc ghế bành ngả ra làm giường, chúng tôi ưu tiên phụ nữ. Hai thầy trò tôi hút bụi thảm, trải ga ra, đắp chung cái chăn chiên, nằm tâm sự. Thơ đọc chán cả chiều rồi, tối nói chuyện làm ăn. Thầy kể, hai chuyến đi vừa rồi thầy cũng kết hợp đi lại kiếm được ít tiền, về đủ xây một ngôi nhà hai tầng khang trang trên mảnh đất trường chia cho. Phần trang trí sắm sửa nội thất trông cậy vào chuyến này. Thầy rủ rỉ: Nam ạ, phải đứng trên chính đôi chân của mình thì mới vươn lên được, mới tiến nhanh, mạnh và vững chắc được. Trước kia ỷ lại, trông chờ vào đồng lương nhà nước nên suốt đời nghèo. Hai đợt đi trước, mình chỉ thuần làm cửu vạn (6), với cái hộ chiếu xanh (7), đi lại mang hàng cho mấy cậu học trò cũ và họ trả thù lao, nên không ăn thua. Lại còn bị sỉ nhục chứ. Rồi thầy kể tôi nghe chuyện thầy bị cậu học sinh cũ mắng cho té tát mà đành ngồi cúi đầu nghe. Chuyện này dài, xứng để viết nên thiên truyện Luật thương mại, tôi đang để dành, xin chưa kể ra đây. Về khuya, khi chị bạn thầy đã ngủ say, tiếng gáy vo vo, thầy mới mạnh dạn kể tôi nghe chuyện hai người vuợt ải đêm qua.

     Thầy bảo: cái bọn bên Mát (8) nó tệ. Đều là học trò cũ của mình cả mà nó cho mình toàn tiền lẻ. Các chuyến trước máy tính đang khan, họ săn thầy cô thịnh tình. Tiền tươi mà tươi rói nhé, lại toàn tiền một trăm đô, nên thao tác đơn giản, gọn nhẹ, qua ải bình yên. Lần này thẻ xanh (7) từ Angiê về nhiều, hàng bộn, đi chậm. Máy của bọn mình không bị xu khôi (9) nhưng là tiền héo. Ai đời, cậu bảo, được dăm tờ một trăm, còn toàn là tiền năm, hai, một chục. thậm chí cô bạn mình còn phải nhận một tập dầy năm đô. Ngoài tiền bán máy tính cuả bọn mình ra, bọn mình còn nhận cửu vạn, tải thêm tiền về cho các soái (6), để kiếm bù cái vé tàu nằm hai chiều. Thế nên mới nặng gánh. Khâu chuẩn bị cũng không được tốt. Đang ngồi ở Đôm Năm (10) gói tiền thì cậu chạy vé vào giục đi. Đành phải bốc nhét tiền vào túi, nhảy ra tắc xi cho kịp giờ tàu về đây. Lên tàu mới loay hoay. Mình già yếu ở tầng dưới. Cô ấy trẻ khỏe lên tầng trên. May mà giường giữa không có ai. Bọn mình loay hoay cuộn gói tiền thành nhiều lọn. Mỗi lọn lấy giây chỉ buộc trong, bao cao su (11) bọc ngoài. Phải giấu giếm dưới ánh điện tù mù. Đường sắt thì xấu. Tàu lắc kinh. Mãi đến nửa đêm hôm qua mới gói xong. Mỗi người sáu lọn, mỗi lon ba mươi tờ, vị chi ba sáu mười tám, một trăm tám mươi tờ. Bao cao su thiếu, cô ấy ưu tiên phần mình. Phần cô ấy có ba lọn phải bọc bằng bao nilon. Xong, đến phần nhét. Mình nhét một tiếng thì xong cả sáu lọn. Cứ như chúng tan biến mất trong dịch ruột già, không cảm thấy gì cả. thấy giường cô ấy lặng tờ, mình yên tâm chợp đi được một lúc. Bỗng nghe cô ấy gọi: “Anh! Anh! Làm sao bây giờ? Ba lọn bọc nilon cứng quá, em cố mãi mà chả nhét được lọn nào.” Mình bảo phải cố xem. Cô ấy bảo: đau lắm. Tàu lao nhanh trong đêm. Cửa ải mỗi lúc một lại gần. Mình bảo cô ấy đưa thử mình một lọn. Cố lựa, nhét. Đau ơi là đau. Mãi rồi mình cũng nhét vào được. Sờ tay xuống đít dính ướt, chắc chảy máu. Cô ấy vẫn không nhét vào được. hình như phụ nữ họ khó vượt qua ngưỡng tâm lí hơn đàn ông. Mình bảo: hay là giấu vào chăn. Cô ấy cự: không được, hải quan nó khám ra ngay.

     Chắc vì quá lo nên khi tàu kéo còi vào ải thì cô ấy nhét liên tiếp được cả hai lọn vào. Hú vía! Tàu dừng nơi ga ải. Bọn mình trống ngực to hơn trống trường. Hải quan Nga rất hách. Thấy hai đứa bọn mình chúng nó ồ lên thô lỗ và xúm vào khám xét như sắp bắt được của. Chúng khám kỹ lắm: soi hết các ngách, giật rèm cửa, sờ nắn người, đổ cả lọ mắm tôm ra lấy que khều, làm cả toa ngạt thở. Bỗng một thằng quay lại cầm tay mình lôi xềnh xệch đến ngăn toa lét. Mình giả vờ không biết tiếng Nga, chỉ xổ toàn tiếng Pháp, mặt tái dại, giọng lắp bắp. Chúng gọi một tay bập bẹ biết tiếng Pháp đến. Nó bắt mình cởi quần, chổng mông. Nó bành lỗ đít mình ra, soi đèn pin vào. Chúng nó ngu. Của ấy có nằm đâu ở ngoài mà soi đèn thấy được. Tha mình, chúng định đưa cô bạn mình đi soi, không hiểu sao lại thôi. Tàu chuyển bánh, vẫn chưa hết lo. Mãi khi một đoàn lính biên phòng đến khám hộ chiếu, nghe tiếng nói vang lên không phải tiếng Nga bọn mình mới thở phào.

     Tiên sư nó chứ - thầy chửi tục, lần đầu tiên tôi nghe thầy chửi tục- mình mang máy tính là thứ máy móc văn minh vào khai sáng cho nước nó, nó đánh thuế đắt hàng đàng hoàng, mà nó không cho mình mang tiền ra, phải cho tiền đi đường ruột thế này, bực lắm. Trình độ văn minh nước Nga còn thấp quá.

     Nói xong, thầy nằm im. Tự dưng tôi thấy thương thầy vô hạn. Phần tôi đã đành: xuất thân từ xứ khỉ ho cò gáy, bản chất nông dân lam lũ, nghèo đói, nên khi kiếm ăn “ thân lươn bao quản lấm đầu”. Còn thầy. Tôi quay sang: thầy đã ngủ tự bao giờ, mặt hướng lên trần nhà, hai tay vắt chéo trước bụng. Tư thế rất là mô phạm. Tôi kéo chăn đắp cho thầy và nằm nghe hai điệu ngáy vo vo. Ngoài kia, tuyết vẫn rơi dày. Mai lạnh, chắc thầy nghỉ ở nhà và thầy trò sẽ lại tiếp tục bình thơ.

Viết xong ngày 20.03.1996 tại Warszasa

Ngậm ngùi sửa, chép lại ngày 20.11.1996

Thiên Nam

  1. Signe d’intégrale, dấu “tích phân” trong toán học, hình chữ S dài, thon.

  2. Ngày Nhà giáo VN.

  3. Món chua làm bằng xơ mít

  4. Equations différentienlles

  5. Mậu dịch quốc doanh

  6. Cửu vạn: nghĩa đen là con bài tổ tôm hay chắn, vẽ hình người vác hàng nặng trên vai, nghĩa bóng là người chuyển hàng thuê qua biên giới cho các soái ( lái buôn lớn)

  7. Hộ chiếu xanh hay thẻ xanh: - hộ chiếu công vụ

  8. Matxcova (Moscou/Moscow) – thủ đô Nga

  9. Xu-khôi (tiếng Nga ‘bồi’): mua chịu

  10.  Túi tránh thai (condom, préservatif)

  11. Nhà ở của nghiên cứu sinh ở Matxcova, nay trở thành một chợ Việt Nam nổi tiếng.

*

*


Sửa lần cuối 2019-03-18 23:16:39

Bình luận


Bình luận qua Facebook